
Tế bào DC-T đặc hiệu trung gian tân kháng nguyên khối u
Sự hình thành khối u giống như quá trình tích lũy sai sót gen. Khi cơ thể tiếp xúc lâu dài với các yếu tố có hại như hóa chất, bức xạ, virus hoặc chịu ảnh hưởng từ yếu tố nội tại như di truyền, tuổi tác, các yếu tố này sẽ dần gây ra biến đổi bất thường ở cấp độ gen, cuối cùng khiến tế bào mất khả năng điều hòa bình thường, tăng sinh vô trật tự và tiến triển thành khối u.
Bất thường gen bắt nguồn từ sự tích lũy nhiều lỗi gen, giống như mã lỗi trong chương trình vận hành tế bào, bao gồm 3 khâu cốt lõi:
1. Hoạt hóa proto-oncogen
Gen "bàn đạp ga" bình thường mất kiểm soát, thúc đẩy tăng sinh quá mức
2. Mất chức năng gen ức chế khối u
Gen hãm tốc hỏng hóc, mất tác dụng kìm hãm tế bào
3. Tích lũy chồng chéo nhiều loại gen bất thường
Một lỗi gen đơn lẻ thường không đủ gây ung thư, chỉ khi nhiều proto-oncogen hoạt hóa cùng với gen ức chế khối u mất chức năng chồng chéo mới hình thành khối u ác tính
Nghiên cứu gen người còn nhiều hạn chế, còn rất nhiều proto-oncogen và gen ức chế chưa được khám phá, nhiều đột biến đa điểm chưa xác định cũng có thể tạo ra gen gây ung thư mới.
Các phương pháp chính điều trị khối u bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, liệu pháp đích, miễn dịch trị, liệu pháp nội tiết, can thiệp… Trong đó miễn dịch trị phát triển bùng nổ sau sự ra đời CAR-T. Giai đoạn 2013–2017, các công ty dược nước ngoài đầu tư nghiên cứu CAR-T cho khối u đặc nhưng kết quả không khả quan. Năm 2016–2025, các học giả Trung Quốc thực hiện nhiều nghiên cứu đổi mới về CAR-T nhưng vẫn không phá vỡ rào cản khối u đặc. Ngoài ra, các nghiên cứu CAR-NK trong và ngoài nước hầu hết đều đình trệ.
Hiện nay CAR-T chỉ sử dụng các proto-oncogen hoặc gen ức chế đã biết làm đích, số lượng đích lựa chọn rất hạn chế. Với khối u ác tính, không thể chỉ can thiệp một hoặc vài đích như trước, cần tìm nhiều đích chính xác để phối hợp điều trị mới đạt hiệu quả. Ví dụ một thùng nước có hàng chục lỗ thủng khiến nước chảy ra, không chỉ vá lỗ to nhất mà phải vá tối đa tất cả các lỗ hổng.
Hệ miễn dịch tự nhiên giỏi nhận biết và tiêu diệt mầm bệnh ngoại lai, vì các mầm bệnh này mang kháng nguyên không thuộc cơ thể người, giúp tế bào miễn dịch phân biệt "kẻ thù và chính mình". Khối u khó chữa vì nó phát triển từ tế bào tự thân biến đổi mất kiểm soát, thiếu dấu hiệu đặc hiệu riêng. Hầu hết kháng nguyên liên quan khối u biểu hiện cao trên khối u nhưng cũng tồn tại ở mô bình thường, dẫn đến hai tình huống: hệ miễn dịch không được kích hoạt, bỏ qua khối u như mô khỏe; hoặc bị kích hoạt tấn công toàn diện không phân biệt, gây bão cytokine.
Tìm tân kháng nguyên đặc hiệu khối u chính là gắn nhãn riêng cho tế bào khối u, hướng dẫn hệ miễn dịch nhận biết chính xác, đây là bài toán khó cấp quốc tế trong lĩnh vực điều trị khối u. NsDC-T đưa ra giải pháp khả thi cho vấn đề này.
Liệu pháp tế bào NsDC-T thực hiện giải trình tự gen trên mô khối u, mô quanh khối u và mô bình thường bệnh nhân, sau đó sử dụng công cụ tin sinh học để xác định tất cả các kháng nguyên đột biến gây bệnh, đồng thời tiêu diệt để đạt mục tiêu kiểm soát hoặc triệt tiêu khối u.
1. Chính xác hơn 2. An toàn hơn 3. Tùy chỉnh cá nhân hóa 4. Toàn diện hơn 5. Hiệu quả hơn
CAR-T là tế bào T biến đổi gen có khả năng độc tế bào mạnh nhưng dễ gây bão cytokine, có ưu thế vượt trội với khối u máu. Với khối u đặc, do cấu trúc tế bào không đều và CAR-T chỉ dùng một đích nên khó xâm nhập sâu vào bên trong khối u. NsDC-T nhận biết nhiều vị trí kháng nguyên, tiêu diệt khối u ba chiều từ ngoài vào trong, độ an toàn cao và có thể lặp lại nhiều lần.
1. Phạm vi tác dụng bao quát hơn
NsDC-T bao gồm toàn bộ chức năng vaccine WT1-DC, đồng thời sở hữu khả năng tiêu diệt khối u mà vaccine WT1-DC không có.
2. Cơ chế tác động chủ động hơn
Vaccine WT1-DC giống như dây nổ mìn, chỉ kích hoạt phòng thủ khi tế bào khối u đi qua. NsDC-T tương đương đội tên lửa trang bị radar pha mảng, giải phóng hàng loạt tế bào miễn dịch và có khả năng truy đuổi tế bào khối u lan tỏa.
3. Số lượng đích phong phú hơn
Theo tài liệu WT1 mới nhất của Nhật và dữ liệu công bố, WT1 chỉ có 2 đích (WT1-1: WAPVLDFAPPGASAYGSL; WT1-2: CYTWNQMNL) chỉ tổng hợp được 2 peptit. NsDC-T ngoài hai đích trên còn thực hiện giải trình tự gen toàn thân bệnh nhân, phân tích đối chiếu để lọc thêm nhiều đích chính xác tổng hợp peptit riêng.
1. Gửi mẫu xét nghiệm
2. Kiểm tra giải trình tự gen (7–14 ngày)
3. Phân tích đích kháng nguyên (3–5 ngày)
4. Phân tích thiết kế peptit (3–5 ngày)
5. Tổng hợp peptit cá nhân hóa (30–60 ngày)
6. Chế tạo tế bào NsDC-T (13–15 ngày)
1. Ca ung thư tuyến phổi trái giai đoạn IIIA
Ông Trịnh, 82 tuổi, chẩn đoán ung thư tuyến phổi trái (giai đoạn IIIA, biệt hóa thấp kèm biệt hóa nội tiết thần kinh, EGFR/ALK/ROS1 âm tính). Từng điều trị hóa trị (paclitaxel albumin + carboplatin), liệu pháp ion nặng proton, chất ức chế điểm kiểm soát miễn dịch.
Bắt đầu liệu trình miễn dịch phối hợp từ 14/7/2025 tổng cộng 8 lần, hiện đang tiếp tục điều trị.
Ngày điều trị:
2025: 14/7, 8/8, 22/8, 18/10, 12/11, 4/12
2026: 14/1, 28/3
Sau điều trị chỉ dấu khối u chính giảm liên tục và chuyển âm.
2. Ca ung thư đại tràng ngang biệt hóa trung bình-thấp giai đoạn IVA
Bà Tiền, 79 tuổi, chẩn đoán ung thư đại tràng ngang biệt hóa trung bình-thấp (pT4aN2aM1a giai đoạn IVA, đột biến KRAS, MSS) kèm đa ổ di căn gan. Từng phẫu thuật cắt nửa đại tràng phải + đốt khối u gan, phẫu thuật lại do tắc ruột, hóa trị mFOLFOX6.
Bắt đầu liệu trình miễn dịch phối hợp từ 14/11/2025 tổng cộng 8 lần, hiện đang tiếp tục điều trị.
Ngày điều trị:
2025: 14/11, 21/11, 10/12, 29/12
2026: 15/1, 6/2, 12/3, 30/3
Trong quá trình điều trị, chỉ dấu khối u chính tăng nhẹ giai đoạn đầu sau đó giảm liên tục.